Nghị quyết 10-NQ/TW được kỳ vọng tạo động lực để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cao năng lực, tăng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng FDI.
Công nghiệp hỗ trợ đứng trước cơ hội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng FDI
Sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn đa quốc gia. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
.jpg)
Nghị quyết 10-NQ/TW tạo cú hích cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ bứt phá. Ảnh minh họa
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu, một thực tế được nhìn nhận rõ hơn trong những năm gần đây là mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI vẫn còn hạn chế.
Tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành công nghiệp còn thấp, trong khi phần lớn doanh nghiệp Việt Nam mới dừng ở vai trò cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đơn giản với giá trị gia tăng chưa cao. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được đánh giá là bước chuyển quan trọng trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam.
Nếu trước đây thành công của FDI chủ yếu được đo bằng số lượng dự án, quy mô vốn đăng ký hay vốn giải ngân, thì Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra những mục tiêu cụ thể gắn với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp trong nước. Theo nghị quyết, giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu thu hút từ 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký. Đồng thời, đến năm 2030 sẽ có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI, trong đó từ 500-1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 1; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt khoảng 45-50%.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA), cho rằng đây là một trong những điểm đột phá nhất của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp Việt Nam được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Điều đó cho thấy, mục tiêu của Việt Nam không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài mà còn hướng tới nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa, gia tăng liên kết giữa hai khu vực doanh nghiệp và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. “Nghị quyết thể hiện rõ sự chuyển dịch từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả, trình độ công nghệ và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế”, ông Nguyễn Vân nhận định.
Đặc biệt, việc ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo và các dự án có cam kết chuyển giao công nghệ được xem là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tiếp cận công nghệ mới, nâng cao trình độ sản xuất và năng lực cạnh tranh.
Theo các chuyên gia, khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, ô tô, năng lượng xanh hay thiết bị công nghệ cao, nhu cầu tìm kiếm nhà cung ứng trong nước sẽ tăng lên đáng kể. Đây là cơ hội để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu thay vì chỉ thực hiện những công đoạn đơn giản như trước đây.
Thu hẹp khoảng cách công nghệ để trở thành đối tác của các tập đoàn toàn cầu
Cơ hội từ Nghị quyết số 10-NQ/TW là rất lớn, song đi kèm với đó là những yêu cầu cao hơn đối với cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Theo ông Nguyễn Vân, khoảng cách về công nghệ, năng lực quản trị và tiêu chuẩn sản xuất giữa nhiều doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn đa quốc gia vẫn còn khá xa. Trong khi đó, các chuỗi cung ứng toàn cầu hiện đặt ra yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng sản phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội, quản trị doanh nghiệp và năng lực giao hàng.
Để trở thành nhà cung ứng cấp 1 cho các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại mà còn phải xây dựng hệ thống quản trị đạt chuẩn quốc tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh chuyển đổi số trong sản xuất. Đây là thách thức không nhỏ khi phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hiện nay có quy mô vừa và nhỏ, khả năng tích lũy vốn còn hạn chế.
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư công nghệ mới nhưng gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Bên cạnh đó, việc đạt được các chứng chỉ quốc tế về quản lý chất lượng, môi trường hay trách nhiệm xã hội cũng đòi hỏi chi phí đáng kể. Chính vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao định hướng thúc đẩy liên doanh, liên kết và hoạt động mua bán - sáp nhập (M&A) giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI được nêu trong Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Theo ông Nguyễn Vân, M&A không chỉ là công cụ mở rộng quy mô thị trường mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản trị, hệ thống khách hàng và nguồn nhân lực chất lượng cao. “Nhiều quốc gia đã tận dụng hiệu quả các thương vụ M&A để rút ngắn khoảng cách công nghệ và nhanh chóng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là hướng đi mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm trong thời gian tới”, ông Nguyễn Vân cho biết.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, cộng đồng công nghiệp hỗ trợ cũng kỳ vọng các chính sách hỗ trợ sẽ được triển khai mạnh mẽ và thực chất hơn nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Trong đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, phát triển các nền tảng kết nối cung - cầu, hình thành các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái sản xuất chuyên sâu được xem là những giải pháp quan trọng để tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ tiếp cận vốn ưu đãi, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tư vấn nâng cấp hệ thống quản trị, hỗ trợ đạt các tiêu chuẩn quốc tế và thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất.
Theo đại diện HANSIBA, mục tiêu cuối cùng không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành đối tác bình đẳng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu được triển khai hiệu quả, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ không chỉ tạo thêm động lực cho ngành công nghiệp hỗ trợ mà còn góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị sản xuất trong nước và củng cố vị thế của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Thành công của chiến lược thu hút FDI thế hệ mới sẽ không chỉ được đo bằng số vốn đầu tư hay số lượng dự án, mà còn bằng số doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành, làm chủ công nghệ, tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao và tạo ra những việc làm chất lượng cho người lao động. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghiệp hiện đại, tự chủ và bền vững trong giai đoạn tới.
Với mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 45-50% và có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI vào năm 2030, Nghị quyết số 10-NQ/TW được kỳ vọng tạo cú hích để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cao năng lực, tiếp cận công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nguyễn Hạnh /Báo Công Thương